Đăng ký gia nhập chi hội thông tin thư viện các trường đại học cao đẳng trung du miền núi phía bắc
Hướng dẫn tìm tài liệu
Tìm tin theo chủ đề

Trang chủ

Thời đại kỹ thuật số và những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người dùng tin


Thứ sáu, 5/8/2020, 4:43:32 PM

Chúng ta đang trong thời kỳ của cách mạng công nghiệp 4.0 - giai đoạn phát triển rực rỡ nhất cho đến nay trong thời đại kỹ thuật số. Rất nhiều các hoạt động đã và đang dần thay đổi phương thức tổ chức và hoạt động, trong đó có hoạt động thông tin. Để tổ chức hoạt động thông tin tốt hơn, cần phải xem xét các yếu tố trong thời đại kỹ thuật số ảnh hưởng như thế nào tới nhu cầu tin của người dùng tin (NDT) để có những biện pháp tổ chức thông tin phù hợp, đáp ứng tốt nhu cầu của NDT.

1. Thời đại kỹ thuật số

Thời đại kỹ thuật số (Digital age) còn gọi dưới các thuật ngữ khác như: thời đại máy tính, thời đại thông tin hoặc thời đại truyền thông mới. Đây là một giai đoạn trong lịch sử nhân loại với sự chuyển đổi từ ngành công nghiệp truyền thống mà cách mạng công nghiệp đã mang lại thông qua công nghiệp hoá, tới nền kinh tế dựa trên tin học hoá. Thời đại kỹ thuật số được hình thành bằng cách tận dụng sự tiến bộ của máy tính. Sự tiến triển của công nghệ trong cuộc sống hàng ngày và tổ chức xã hội đã dẫn đến sự hiện đại hoá các quá trình thông tin và truyền thông, trở thành động lực của tiến hoá xã hội.

Theo Từ điển Cambridge: “Thời đại kỹ thuật số là thời điểm hiện tại, khi hầu hết thông tin ở dưới dạng số” [2]. Từ điển Your Dictionary đưa ra định nghĩa thời đại kỹ thuật số “là khoảng thời gian bắt đầu vào những năm 1970 với sự ra đời của máy tính cá nhân cùng với công nghệ tiếp theo được giới thiệu cung cấp khả năng truyền tải thông tin một cách tự do và nhanh chóng” [4]. Các khái niệm này đều gắn sự xuất hiện của thời đại kỹ thuật số với hình thức hay khả năng truyền tải thông tin điện tử.

Cụ thể hơn, có thể hiểu thời đại kỹ thuật số là [3]:

1. Khoảng thời gian trong lịch sử mà việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số đã trở nên rộng khắp và sử dụng phổ biến trên khắp thế giới. Thời đại kỹ thuật số đã bắt đầu thực sự với việc sử dụng rộng rãi Internet.

2. Từ khoảng năm 1980, trùng hợp với sự ra đời của World Wide Web.

3. Đôi khi được gọi là kỷ nguyên thông tin, hoặc thời đại máy tính, khái niệm này bắt nguồn từ tính phổ biến của máy tính và việc sử dụng công nghệ rộng rãi trong hầu hết các hoạt động của con người, do đó tương tác số là một đặc điểm xác định hoạt động của con người.

4. Thời đại phát triển hiện tại, trong đó các hoạt động/ quá trình xã hội, kinh tế và chính trị được thúc đẩy bởi ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information Communication Technology - ICT)/ công nghệ kỹ thuật số.

5. Việc sử dụng rộng rãi các công nghệ số như: máy tính, email, Internet, trò chơi điện tử, video...

2. Người dùng tin và nhu cầu tin

Người dùng tin

NDT là thuật ngữ đã được các nhà khoa học đưa ra định nghĩa ở nhiều phương diện khác nhau.

Theo Từ điển Khoa học Thông tin và Thư viện trực tuyến (The Online Dictionary for Library and Information Science - ODLIS), NDT là “người sử dụng các nguồn và dịch vụ của một thư viện, không nhất thiết phải là người đăng ký mượn” [7].

Tác giả Nwalo xác định NDT là bất cứ ai truy cập vào thư viện với mục đích khai thác tài nguyên để đáp ứng nhu cầu thông tin của mình [6]. Từ "truy cập" được nhấn mạnh trong thế kỷ XXI, bao gồm truy cập từ xa vào cổng thông tin thư viện hoặc trang web.

Tác giả Aina cho rằng thuật ngữ "người dùng tin" bao gồm tất cả những người tận dụng các dịch vụ được cung cấp bởi một thư viện [6]. Thuật ngữ này bao gồm các thuật ngữ khác nhau như khách hàng, người sử dụng thông tin, người tìm kiếm thông tin, người tiêu dùng, độc giả... những thuật ngữ này có thể được sử dụng hoán đổi cho nhau, bởi vì tất cả đều sử dụng cho những người tìm kiếm dịch vụ của thư viện.

Có thể nhận thấy, trong các định nghĩa trên, thuật ngữ “người dùng tin” được hiểu với ý nghĩa rộng, là người sử dụng các nguồn và dịch vụ của một thư viện nói chung chứ không phải chỉ là người có nhu cầu về thông tin và sử dụng các dịch vụ  thư viện - thông tin chỉ để đáp ứng nhu cầu thông tin của mình.

Trong bài viết này, tác giả hiểu NDT là người có nhu cầu thông tin và đồng thời có nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ thông tin để thoả mãn nhu cầu tin của họ.

Nhu cầu tin

Theo quan điểm của tâm lý học Mác xít: Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người (cá nhân, nhóm, xã hội), đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của con người [1].

Nhu cầu tin rất khó để định lượng, nghiên cứu hoặc đo lường. Nhu cầu tin thường phát sinh khi con người có vấn đề không giải quyết được. Nó có thể nảy sinh khi người ta nhận ra rằng trạng thái tri thức hiện tại của họ không đủ để xử lý công việc, để giải quyết những mâu thuẫn về một chủ đề, hoặc lấp vào khoảng trống tri thức của họ. Như vậy, nhu cầu tin không phải là nhu cầu sơ cấp, mà nó là nhu cầu thứ cấp được nảy sinh từ nhu cầu khác.

Năm 1954, Maslow đã phân loại nhu cầu của con người thành 5 loại theo trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp. Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ.

Dựa vào biểu đồ này, tác giả Gobinda Chowdhury và Subdata Showdhury [5] đã chia nhu cầu thông tin thành năm loại sau:

alt

Hình 1: Tháp nhu cầu thông tin của Gobinda Chowdhury và Subdata Showdhury

- Nhu cầu thông tin sao chép: Là nhu cầu thông tin của con người ở mức thấp nhất. Con người cần sao chép thông tin do yêu cầu của công việc hoặc nhiệm vụ.

- Nhu cầu thông tin giúp đỡ: Là nhu cầu về thông tin để tránh rủi ro và nguy hiểm trong công việc, hoạt động và đưa ra quyết định hàng ngày. Các nguồn thông tin để đáp ứng nhu cầu này đa dạng như: các nguyên tắc, các công cụ, hướng dẫn thực hành… trang bị cho con người các kiến thức để họ có thể thực hiện tốt hơn các hoạt động và giải quyết các vấn đề hàng ngày.

- Nhu cầu thông tin làm sáng tỏ: Đây là các thông tin mà người ở vị trí cao hơn trong hệ thống phân cấp nhu cầu Maslow cần. Nó làm con người hiểu biết sâu sắc, làm sáng tỏ về các hoạt động cụ thể và cho phép họ hiểu tại sao con người làm cái họ làm - cho họ thấu hiểu công việc của mình với các hoạt động liên quan khác của xã hội. Thông tin này có thể đến từ tư liệu và các nguồn chuyên môn của con người - hội thảo, toạ đàm, Internet…

- Nhu cầu thông tin được trao quyền: Thông tin giúp con người đạt được sự quý trọng. Thông tin này khác biệt với thông tin được yêu cầu cho các hoạt động thường ngày hoặc thông tin chung. Nó được yêu cầu để giúp con người đạt được sự hiểu biết tốt hơn về môi trường, hoàn cảnh công việc và nó có thể giúp cho con người hiểu biết các chính sách hoặc chiến lược của công ty, hiểu biết về chính trị hoặc các vấn đề xã hội liên quan tới môi trường của họ. Nguồn thông tin có thể là chính thức hoặc không chính thức và có thể dựa vào chuyên môn nhiều hơn dựa vào tài liệu.

- Nhu cầu thông tin khai sáng: Thông tin được yêu cầu bởi người đạt tới trình độ cao nhất trong hệ thống phân cấp nhu cầu của Maslow, con người cần thông tin cho việc thể hiện bản thân. Thông tin này có thể không nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể hoặc một công việc cụ thể, nhưng thay vào đó là một mức độ cao hơn của việc đạt được về mặt tâm lý. Thông tin này có thể có được từ các nguồn thông tin về tôn giáo, tâm lý, lịch sử, khoa học…, hoặc từ chuyên môn của con người - người thông thái và người có uy tín.

3. Những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người dùng tin trong thời đại kỹ thuật số

NDT là một thực thể xã hội, bị chi phối bởi các điều kiện xã hội nhất định. Nhu cầu tin của họ vì vậy sẽ có những điểm khác biệt và luôn biến động. Nhu cầu tin của NDT sẽ chịu sự chi phối của các yếu tố chủ quan và khách quan trong quá trình hình thành và phát triển. Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tin gồm các yếu tố khách quan và chủ quan như: môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, mức độ thoả mãn nhu cầu, trình độ văn hoá và nhân cách [1]. Trong thời đại kỹ thuật số, các yếu tố này cũng đều ảnh hưởng tới nhu cầu tin của NDT, tuy nhiên có các yếu tố sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ hơn các yếu tố khác. Trong bài viết này, tác giả chỉ đề cập tới một số yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất tới nhu cầu tin của NDT trong thời đại kỹ thuật số như: chính sách nhà nước về ICT, sự phát triển của ICT, nghề nghiệp và khả năng sử dụng ICT của NDT.

3.1. Chính sách nhà nước về công nghệ thông tin và truyền thông

Có thể nói ICT là một trong những yếu tố cơ bản xây dựng nên thời đại kỹ thuật số. Tại mỗi quốc gia đều có các chính sách riêng về ICT dựa trên chiến lược và quan điểm phát triển của quốc gia đó. Những chính sách này ảnh hưởng rất lớn tới khả năng truy cập và sử dụng thông tin số của NDT tại quốc gia đó. Những quốc gia nào có chính sách mở, không hạn chế khả năng truy cập thông tin của NDT thì nhu cầu thông tin ở dạng số (nhu cầu thông tin số) của NDT càng phát triển và ngược lại, những quốc gia nào hạn chế khả năng truy cập thông tin thì nhu cầu thông tin số của NDT sẽ bị hạn chế. Ví dụ như Triều Tiên, theo quan điểm quốc gia, ở thời điểm hiện tại, đất nước này đang hạn chế việc sử dụng Internet đối với người dân và giới hạn quyền truy cập tới rất nhiều nguồn thông tin trên Internet. Điều này làm cho người dân khó có khả năng biết đến, tiếp cận và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin số. Chính vì vậy, nhu cầu thông tin số của họ cũng rất hạn chế.

3.2. Sự phát triển công nghệ thông tin và truyền thông

Như đã nói ở trên, ICT là một thành phần quan trọng tạo nên thời đại kỹ thuật số. Đây chính là nền tảng giúp các nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ thông tin số phát triển các sản phẩm và dịch vụ của mình, tạo cơ hội thuận lợi cho nhiều chủ thể là tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình tạo lập các sản phẩm và dịch vụ thông tin. Điều này dẫn tới sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các chủ thể trong việc tạo ra những sản phẩm và dịch vụ thông tin đa dạng, có chất lượng nhằm thu hút đối tượng NDT mục tiêu của mình. Các chủ thể này có thể là các nhà xuất bản, các thư viện, các cơ quan phát hành sách, các cơ quan công quyền, các nhà cung cấp dịch vụ thông tin số… Có thể nói, nếu ICT phát triển sẽ làm cho các sản phẩm dịch vụ thông tin số đa dạng, phong phú, hấp dẫn NDT.

Không chỉ từ phía các nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ thông tin số, sự phát triển của ICT còn giúp cho NDT dễ dàng tiếp cận với các thiết bị công nghệ thông tin trong việc truy cập tới các nguồn thông tin số. Trong những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, cơ hội để NDT sử dụng máy tính và có khả năng truy cập Internet tại các thành phố lớn ở Việt Nam là điều vô cùng khó khăn. Với sự phát triển mạnh mẽ của ICT, sau khoảng 15 năm, hầu hết người dân tại đây đều có thể sở hữu những thiết bị di động cá nhân, có kết nối Internet, có thể truy cập bất kỳ sản phẩm và dịch vụ thông tin số nào mọi lúc, mọi nơi. Thói quen truy cập Internet để tìm kiếm thông tin, giải quyết các vấn đề của người dân đã trở nên phổ biến trong xã hội.

Như vậy, có thể khẳng định, sự phát triển của ICT ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu tin của NDT. Nếu ICT càng phát triển thì các sản phẩm và dịch vụ thông tin số sẽ phát triển, NDT dễ dàng tiếp cận, sử dụng hơn với các thiết bị công nghệ thông tin, điều này dẫn tới nhu cầu thông tin số của NDT càng tăng.

3.3. Nghề nghiệp

Nhu cầu tin vốn là nhu cầu tin thứ cấp, nó chỉ xuất hiện khi con người muốn giải quyết công việc cụ thể nào đó của họ. Trong khi đó, hoạt động lao động nghề nghiệp là hoạt động chủ đạo trong một giai đoạn rất dài của cuộc đời, từ khi con người trưởng thành (là công dân) đến khi hết độ tuổi lao động [1]. Có thể nói, nghề nghiệp là một trong những yếu tố làm nảy sinh nhiều nhất các vấn đề cần giải quyết của mỗi con người trong cuộc sống. Để giải quyết các vấn đề đặt ra, con người sẽ phải tìm kiếm các thông tin để lấp đầy khoảng trống hiểu biết để đưa ra các giải pháp, các quyết định thực hiện nhiệm vụ của mình.

Những lợi thế của sự phát triển ICT trong thời đại kỹ thuật số, đặc biệt là khả năng lưu trữ, truyền tải và tiếp cận thông tin một cách dễ dàng, nhanh chóng, ảnh hưởng rất lớn tới cơ cấu nghề nghiệp trong xã hội. Nhiều loại hình nghề nghiệp thay đổi phương thức hoạt động, có nghề nghiệp mất đi và có nghề nghiệp được sinh ra. Các công việc so với trước đây hầu hết đều được thực hiện với thời gian nhanh hơn gấp nhiều lần. Chính vì vậy, điều này cũng ảnh hưởng tới thói quen, cách thức sử dụng thông tin của NDT hiện nay.

Nghề nghiệp khác nhau để lại những dấu ấn khác nhau trong nội dung nhu cầu tin và tập quán sử dụng thông tin của mỗi người [1]. Trong thời đại kỹ thuật số, đa phần NDT từ những cán bộ lãnh đạo, các nhà nghiên cứu, nhân viên văn phòng tới những người làm công việc nội trợ đều có xu hướng sử dụng thông tin dưới dạng số để giải quyết các công việc của mình. Sự khác nhau trong nhu cầu tin của họ là nội dung thông tin và cách thức tìm kiếm. Ví dụ, với nhà nghiên cứu, nhà khoa học, để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, họ thường có nhu cầu sử dụng các bài viết, các tài liệu khoa học. Các tài liệu này thường nằm ở cơ sở dữ liệu của các thư viện, nhà xuất bản tài liệu khoa học... Để sử dụng các tài liệu có hàm lượng khoa học cao, đa phần NDT phải trả phí. Với những người làm công việc nội trợ, nhu cầu thông tin của họ có thể đơn giản là tìm kiếm các công thức nấu ăn, các thông tin giải trí. Các thông tin này dễ dàng tìm kiếm trên Internet và ít khi phải trả phí.

3.4. Độ tuổi

Mỗi giai đoạn lứa tuổi trong cuộc đời con người có những đặc điểm tâm lý riêng do hoạt động chủ đạo chi phối. Các đặc điểm tâm lý lứa tuổi có ảnh hưởng khá rõ rệt tới nội dung và phương thức thoả mãn nhu cầu tin [1].

Về nội dung nhu cầu tin bị chi phối bởi các hoạt động chủ đạo của từng giai đoạn lứa tuổi. Ví dụ, trẻ em thích đọc sách thiếu nhi; thanh niên thích đọc tiểu thuyết tình cảm; trung niên có xu hướng ưu tiên các thông tin gắn với lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp; người già thích đọc sách y học và bảo vệ sức khoẻ… [1].

Về nhu cầu dạng tài liệu có sự khác biệt giữa các lứa tuổi. Người cao tuổi thường có nhu cầu sử dụng tài liệu dưới dạng truyền thống cao hơn người trẻ tuổi. Trong khi đó, người trẻ tuổi thường có nhu cầu sử dụng các nguồn tin dạng số nhiều hơn. Có một số nguyên nhân cho vấn đề này. Trước hết, người trẻ tuổi thường có xu hướng dễ dàng thích nghi và tiếp cận những công nghệ mới hơn người cao tuổi. Vì vậy, việc tiếp cận với các nguồn tin dưới dạng số cũng dễ dàng hơn đối với nhóm người này. Bên cạnh đó, những người trẻ tuổi có xu hướng năng động hơn, vì vậy họ sẽ có các nhu cầu tin nhanh chóng, cập nhật hơn và tài liệu dưới dạng số đáp ứng tốt yêu cầu này hơn tài liệu dạng truyền thống. Bên cạnh đó, để tiếp cận thông tin dạng số đòi hỏi phải sử dụng đến các thiết bị điện tử. Việc đọc thông tin trên màn hình điện tử lâu dễ làm cho mắt người trở nên mệt mỏi, khó chịu. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân cản trở người cao tuổi tiếp cận với nguồn tin số khi khả năng thị giác của họ trở nên kém dần đi.

3.5. Khả năng sử dụng công nghệ  truyền thông của người dùng tin

Trong thời đại kỹ thuật số, việc tương tác giữa cán bộ thông tin và NDT sẽ đòi hỏi phải sử dụng ICT - sử dụng công nghệ kỹ thuật số hàng ngày, bao gồm việc sử dụng máy tính, máy tính bảng hoặc điện thoại di động, gửi email, duyệt Internet, gọi điện video... để giao tiếp. Như vậy, kỹ năng sử dụng ICT của NDT sẽ ảnh hưởng lớn tới nhu cầu thông tin đặc biệt là nhu cầu thông tin số của họ.

Với NDT không có kỹ năng sử dụng ICT, dù có sự hướng dẫn của cán bộ thông tin thì họ cũng vẫn phải sử dụng ICT. Điều này làm cho khả năng sử dụng tài nguyên của hệ thống thông tin đó của họ là rất yếu. Những NDT này hầu như chỉ có thể sử dụng được các sản phẩm thông tin thông qua bên thứ ba có kỹ năng ICT. Điều này làm cho nhu cầu thông tin số của họ rất hạn chế.

Với những người có kỹ năng sử dụng ICT ở mức độ bình thường có thể sử dụng các thiết bị công nghệ để truy cập vào hệ thống thông tin với ít hoặc không cần có sự hỗ trợ nào. Nhóm người này có thể sử dụng các công cụ tìm kiếm cơ bản, nhưng không thể sử dụng hiệu quả tất cả các tính năng của công cụ tìm kiếm của hệ thống thông tin. Nhu cầu thông tin số của họ vì thế cũng ở mức cao hơn.

Với những người có kỹ năng sử dụng ICT rất tốt - đây là những người đã trải qua các khoá đào tạo ICT và có được những kinh nghiệm tương đối trong việc sử dụng các công nghệ mới liên quan đến việc thu thập thông tin. Những NDT này có thể có được những thông tin họ cần một cách dễ dàng, nhanh chóng. Nói cách khác, nhóm người này bao gồm những người có thể biến nhu cầu thông tin của họ thành các từ khóa, xây dựng được chiến lược tìm tối ưu, sử dụng các công cụ tìm kiếm cơ bản hoặc nâng cao để thu thập thông tin một cách đầy đủ và cập nhật. Nhu cầu thông tin số của nhóm người này là rất cao.

Tóm lại, trong thời đại kỹ thuật số, các yếu tố: chính sách nhà nước về ICT, sự phát triển của ICT, nghề nghiệp và khả năng sử dụng ICT của NDT đang tác động mạnh mẽ tới nhu cầu tin của NDT. Các nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ thông tin cần nắm bắt và phân tích được mức độ ảnh hưởng của chúng tới nhóm NDT mục tiêu của mình để tạo ra những sản phẩm thông tin phù hợp với nhu cầu của họ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Thị Minh Nguyệt. Bài giảng người dùng tin. - H.: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, 2007.

2. Từ điển Cambridge. http://dictionary.cabridge .org/dictionary/english/digital-age, truy cập ngày 15/12/2017.

3. Từ điển IGI-global. http://www.igi-global.com/ dictionary/digital-age/7562.

4. Từ điển Yourdictionary. http://www.yourditionary. com/digital-age, truy cập ngày 15/12/2017.

5. Chowdhury, Gobinda and Chowdhury, Sudata. Information users and usability in the digital age. - London: Facet, 2011.

6. Isaac Echezonam Anyira. The Anatomy of Library Users in the 21st Century // Library Philosophy and Practice. - 2011.

7. Joan M. Reitz. Online Dictionary for Library and Information Science, 2013. http://www.abc-clio.com/ODLIS/odlis_p.aspx#patron, truy cập ngày 8/11/2017.

_________________

TS. Bùi Thanh Thuỷ

Khoa Thông tin - Thư viện, ĐH KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội

Các tin khác

Tài liệu điện tử mới

Nghiên cứu khả năng hấp phụ Fe(III), Ni(II) của than chế tạo từ bẹ chuối

Nghiên cứu khả năng hấp phụ Fe(III), Ni(II) của than chế tạo từ bẹ chuối

Tác giả: Thiềng,Lê Hữu; Huế,Trần Thị; Nhạn,Hoàng Thị

NXB:

A Quasi-Residual Principle in Regularization for a Common Solution  of a System of Nonlinear Monotone Ill-Posed Equations

A Quasi-Residual Principle in Regularization for a Common Solution of a System of Nonlinear Monotone Ill-Posed Equations

Tác giả: Bường,Nguyễn; Hương,Trần Thị; Thủy,Nguyễn Thị Thu

NXB:

Kết quả nuôi cấy đơn bào Histomonas meleagridis trong môi trường Dwyers và gây nhiễm cho gà ở Thái Nguyên

Kết quả nuôi cấy đơn bào Histomonas meleagridis trong môi trường Dwyers và gây nhiễm cho gà ở Thái Nguyên

Tác giả: Lan,Nguyễn Thị Kim; Tính,Trương Thị; Giang,Đỗ Thị Vân; Ngà,Nguyễn Thị Bích

NXB:

Steroidal glycosides from  M arsdenia tenacissima

Steroidal glycosides from M arsdenia tenacissima

Tác giả: Khang,Phạm Văn

NXB: