Đăng ký gia nhập chi hội thông tin thư viện các trường đại học cao đẳng trung du miền núi phía bắc
Hướng dẫn tìm tài liệu
Tìm tin theo chủ đề

Trang chủ

Phát triển kỹ năng và phương pháp tiếp cận việc đọc sách của sinh viên tại thư viện các trường đại học


Thứ sáu, 10/9/2020, 2:05:59 AM

Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, việc đọc sách góp phần không nhỏ vào quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức, hình thành và phát triển nhân cách con người. Phát triển văn hoá đọc luôn là một vấn đề mang ý nghĩa chiến lược của mọi quốc gia trong việc nâng cao dân trí, góp phần phát triển bền vững nguồn nhân lực - nhân tố quyết định mọi thành công [1]. Trong hệ thống trường đại học, thư viện góp phần đào tạo nguồn nhân lực có tri thức cho đất nước, thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển sản xuất và khoa học công nghệ. Thư viện cung cấp cho xã hội những thông tin khoa học mới mẻ, đặc biệt là những công trình nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên và sinh viên (SV) trong trường [2].

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ các phương tiện truyền thông hiện đại như truyền hình, Internet, điện thoại, các thiết bị thông minh… việc đọc sách của SV ngày một giảm dần là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục - đào tạo cũng như chất lượng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay. Chính vì vậy, để khơi dậy niềm đam mê đọc sách của SV, thư viện các trường đại học cần xây dựng các kỹ năng và đưa ra phương pháp đọc sách hiệu quả.

1. Phát triển kỹ năng đọc sách cho sinh viên

Hiệu quả của việc đọc sách không chỉ phụ thuộc vào đọc cái gì, mà còn phụ thuộc vào đọc như thế nào? Đọc không phải là quá trình cơ giới mà là quá trình sáng tạo, suy nghĩ vấn đề đã đọc được, so sánh và tổng hợp nội dung của quyển sách. Để nắm và hiểu được nội dung mà quyển sách muốn truyền tải, SV phải xác định được mối liên hệ giữa từng phần nội dung trình bày, phải định hướng, phát hiện được những nội dung nào cần cho mình [8].

Đặc biệt, hiện nay các trường đại học đều đào tạo theo học chế tín chỉ, SV cần phát huy hơn khả năng tự học, tự nghiên cứu. Kết quả học của SV là sự kết hợp giữa học tập và lĩnh hội tri thức từ sách, tài liệu.

Tuy nhiên, hiện nay có một bộ phận nhỏ SV chưa ý thức được tầm quan trọng của việc đọc sách, giá trị của sách mang lại, có xu hướng lười đọc, ngại đọc sách dẫn đến chưa được hình thành vững chắc thói quen đọc sách [6]. Một bộ phận SV khác xem việc đọc sách mang tính chất đối phó (do giảng viên yêu cầu, hay tới kỳ thi, kiểm tra mới lên thư viện tìm mượn giáo trình tài liệu tham khảo) hay chỉ chọn đọc những tài liệu mang tính chất giải trí đơn thuần như truyện tranh, báo, tạp chí giải trí. Đặc biệt, SV chưa xây dựng cho mình kỹ năng và phương pháp đọc hiệu quả, dẫn đến việc nắm bắt thông tin trở nên khó khăn, tốn thời gian và công sức mà không mang lại kết quả cao trong học tập và nghiên cứu.

Vì vậy, việc đọc sách đúng phương pháp, thường xuyên không những giúp SV nâng cao kiến thức mà còn là biện pháp để hoàn thiện tâm hồn nhân cách của con người, tăng khả năng giao tiếp, rèn luyện năng lực sáng tạo... Do đó, thư viện sẽ là sợi dây giúp SV kết nối nguồn tri thức đó.

1.1. Đào tạo - kết nối người đọc/ sinh viên

Việc tổ chức phục vụ tài liệu cho SV là một hoạt động nhằm thúc đẩy, phát triển, thoả mãn nhu cầu, hứng thú đọc tài liệu thông qua việc tuyên truyền, hướng dẫn và cung cấp tài liệu dưới nhiều hình thức, bao gồm các hình thức tổ chức và phương pháp phục vụ trong và ngoài thư viện. Đồng thời còn là thước đo hiệu quả luân chuyển tài liệu và tác dụng của nó trong đời sống [4].

Thư viện đại học cần đẩy mạnh các hoạt động nhằm thu hút SV đến thư viện thông qua các hình thức tuyên truyền, giới thiệu các dịch vụ, sản phẩm của thư viện: thường xuyên mở các lớp hướng dẫn sử dụng thư viện, lớp kỹ năng thông tin, hướng dẫn tra cứu các cơ sở dữ liệu thư viện (tra cứu Opac, nguồn tài liệu số, cơ sở dữ liệu điện tử); tổ chức các cuộc thi về sách như: đọc diễn cảm, tìm hiểu nhân vật lịch sử, tìm hiểu chủ đề sự kiện nổi bật, dựng lại tác phẩm văn học, dạ hội văn học; tạo các mô hình trao đổi sách yêu thương, các câu lạc bộ về sách; tổ chức các lớp đối thoại chia sẻ kinh nghiệm trong vấn đề học tập và nghiên cứu, tổ chức các cuộc thi về thư viện và sách… Bên cạnh đó, định kỳ tổ chức các buổi giao lưu hội nghị bạn đọc để nắm bắt tâm tư nguyện vọng, lắng nghe những góp ý của họ nhằm cải thiện chất lượng phục vụ, các dịch vụ và sản phẩm của thư viện. Qua đó, tạo sự hứng thú, thúc đẩy niềm đam mê đọc sách giúp SV đến gần thư viện hơn.

1.2.Hướng dẫn kỹ năng đọc sách cho sinh viên

Hướng dẫn đọc được xem là tác động của người làm thư viện lên nội dung và tính chất đọc của SV tới các hình thức và phương thức khác của hoạt động thư viện. Hướng dẫn đọc dựa trên các nguyên tắc: tính tư tưởng, phục vụ có phân biệt, phát triển tính tự giác và sáng tạo của người đọc, tính hệ thống, tính trực quan của việc tuyên truyền sách, báo, tài liệu [8].

Hiện nay, có nhiều sách, báo, tài liệu nói về các phương pháp đọc sách, hướng dẫn đọc hiệu quả cũng như lợi ích của việc đọc sách. Tuy nhiên, mỗi người sẽ chọn cho mình các phương pháp đọc khác nhau: có thể đọc lướt phụ lục, tóm tắt, đọc phân tích, đọc kết luận hay đọc toàn văn... Dù đọc như thế nào thì vấn đề thiết yếu là phải hiểu được nội dung mà tác giả của quyển sách muốn truyền tải và khi gấp trang sách lại, điều gì còn đọng lại trong mỗi người? Không phải ai cũng hiểu và làm được điều đó. Người làm thư viện có thể thông qua các cuộc thi, các buổi thuyết trình, đưa những ra hướng dẫn tham khảo giúp người đọc hiểu hơn phương pháp đọc sách của mình.

Có thể đưa ra các cấp độ đọc như sau: Đọc sơ đẳng; Đọc kiểm tra; Đọc phân tích; Đọc theo chủ đề tổng hợp.

* Khi đọc 1 quyển sách cần đạt một số tiêu chí:

- Xác định được mục đích đọc “Đọc cái gì?”, “Đọc để làm gì?”: nhằm lựa chọn sách cần đọc và phương pháp đọc phù hợp.

- Những cấp độ đọc có thể thực hiện: đọc kiểm tra, đọc lướt, đọc phân tích, đọc theo chủ đề tổng hợp...

- Xác định các từ khoá, từ chuyên môn.

- Tìm ý chính.

- Xác định thông điệp của tác giả.

- Đánh giá nội dung sau khi đọc qua quyển sách (phê bình, đồng ý).

Hình 1: Xác định thông điệp của tác giả

Trong công tác phục vụ, người làm thư viện cần đưa ra các biện pháp tuyên truyền giới thiệu những tài liệu phù hợp với hứng thú của SV. Để thực hiện vấn đề này, người làm thư viện không chạy theo xu hướng nhất thời mà phải xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản của việc giáo dục con người phát triển toàn diện, tác động tích cực đến sự hình thành hứng thú của SV. Người làm thư viện cần tìm hiểu những kỹ năng trên giúp SV tiếp thu có ý thức những điều đã được đọc, nắm kiến thức, bồi dưỡng niềm đam mê đọc sách, khuyến khích họ tham gia các hoạt động đọc, qua đó phát huy tính tự giác sáng tạo trong quá trình đọc sách của SV.

2. Các phương pháp tiếp cận, thu hút sinh viên

2. 1. Xây dựng môi trường đọc thân thiện

Một môi trường học tập thân thiện phải đáp ứng tốt về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực; môi trường an toàn lành mạnh sẽ tạo điều kiện cho SV học tập đạt kết quả tốt. Môi trường đọc cũng là một trong những yếu tố tạo hứng thú cho SV và thúc đẩy văn hoá đọc phát triển.

Theo Thông tư số 56/2003/TT-BVHTT ngày 16/9/ 2003 của Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) hướng dẫn chi tiết về điều kiện thành lập thư viện và thủ tục đăng ký hoạt động thư viện, quy định về trụ sở, trang thiết bị chuyên dùng tại các thư viện đại học, diện tích đảm bảo cho các bộ phận chức năng hoạt động như sau:

- Diện tích kho sách đáp ứng yêu cầu lưu giữ cho vốn tài liệu ban đầu và vốn tài liệu sẽ phát triển sau 15 năm theo định mức 2,5m2/ 1.000 đơn vị tài liệu;

- Diện tích phòng đọc đảm bảo tỷ lệ 2,5m2/ chỗ ngồi đọc;

- Diện tích nơi làm việc của nhân viên thư viện định mức 6m2/ 1 người;

- Ngoài ra còn có diện tích dành cho các hoạt động khác tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng thư viện.

- Thư viện của trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề: 80 chỗ ngồi đọc dành cho phòng đọc tổng hợp và 30 chỗ ngồi đọc đối với các loại phòng đọc khác [7].

Như vậy, Thông tư đã quy định rất cụ thể về diện tích hoạt động của thư viện. Do đó, thư viện đại học cần dựa theo số lượng SV mà bố trí những kho sách, phòng đọc phù hợp và thuận lợi cho SV. Với tính chất đặc trưng của trường đại học, mỗi người có lịch hoạt động khác nhau, nên thư viện cần tạo thời gian phục vụ hợp lý, có thể tăng thời gian mở cửa phục vụ vào buổi trưa, buổi tối, các ngày thứ bảy, chủ nhật, tạo không gian học tập đa dạng (phòng máy tính wifi miễn phí, khu học nhóm, khu học yên tĩnh, phòng báo cáo chuyên đề, hội thảo, phòng thực hành, phòng đọc tài liệu quý hiếm, phòng tài liệu nghe nhìn...) nhằm phục vụ tốt từng đối tượng SV.

Thư viện đại học cần tổ chức kho sách với không gian mở, tài liệu sắp xếp theo môn loại tri thức với một số kho riêng (kho sách giáo trình, tham khảo, kho sách tài liệu nội sinh, kho sách ngoại văn, kho báo - tạp chí...). Ngoài ra, thư viện đại học có thể đưa ra các hình thức cải tiến môi trường đọc linh hoạt hơn (cà phê sách, câu lạc bộ âm nhạc và sách...). Một thư viện học tập thoáng mát, đa dạng các hình thức hỗ trợ sẽ là nơi lý tưởng để SV thoải mái trải nghiệm thư viện. Đó cũng là tiền đề để thư viện đại học thu hút SV đến với thư viện, góp phần hình thành nên sở thích và thói quen đọc sách.

2.2. Thư viện đại học cần có chính sách bổ sung tài liệu phù hợp

Dựa theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của thư viện được quy định theo quy chế mẫu “Về tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học” (Ban hành kèm theo Quyết định số 13/2008/QĐ- BVHTTDL ngày 10/3/2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) quy định thư viện trường đại học có nhiệm vụ: Bổ sung, phát triển nguồn lực thông tin trong nước và nước ngoài đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của nhà trường; thu nhận các tài liệu do nhà trường xuất bản, các công trình nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, tài liệu hội thảo, khoá luận, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ của cán bộ, giảng viên, SV, học viên, chương trình đào tạo, giáo trình, tập bài giảng và các dạng tài liệu khác của nhà trường, các ấn phẩm tài trợ, biếu tặng, tài liệu trao đổi giữa các thư viện [5]. Đối với thư viện đại học, mỗi SV có sự khác biệt về trình độ, chuyên ngành đào tạo, nên đòi hỏi người làm thư viện cần nắm rõ các chương trình đào tạo của nhà trường, nhằm định hướng bổ sung và giới thiệu cho SV những nguồn tài liệu phù hợp.

Thư viện có thể đưa ra nhiều hình thức bổ sung khác nhau: bổ sung tài liệu theo chuyên ngành đào tạo, thực hiện chính sách bổ sung tài liệu theo yêu cầu từ giảng viên, SV; thường xuyên liên hệ các đơn vị, khoa, bộ môn để bổ sung nguồn tài liệu nội sinh (giáo trình, tài liệu giảng dạy, nghiên cứu khoa học của giảng viên, SV, luận văn, luận án, khoá luận tốt nghiệp…) bao gồm cả bản in và bản điện tử; liên hệ các nhà cung cấp sách, nhà xuất bản giới thiệu những tài liệu mới ấn hành, tổ chức các cuộc triển lãm giới thiệu sách (Ngày hội Sách, giao lưu tác giả, tổ chức sách theo sự kiện) nhằm nâng cao nhận thức việc đọc sách trong SV.

Để thu hút SV đến gần hơn với văn hoá đọc, ngoài bổ sung những loại tài liệu in, thư viện cần đẩy mạnh bổ sung các nguồn cơ sở dữ liệu điện tử. Việc bổ sung tài liệu phải dựa vào thành phần và nhu cầu hứng thú của SV, cũng như đạt các tiêu chí phong phú về nội dung, đa dạng thể loại và đảm bảo về chất lượng.

2.3.Người làm thư viện đại học cần có chuyên môn nghiệp vụ, tận tâm trong công tác phục vụ

Người làm thư viện đóng vai trò khá quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện. Do đó, đòi hỏi họ cần có năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị tốt và tâm huyết với nghề. Trong công tác phục vụ, người làm thư viện đại học phải vững vàng trong công tác xử lý nghiệp vụ, có kỹ năng thông tin (sử dụng thành thạo các công cụ tra cứu, có kỹ năng phân tích đánh giá tổng hợp thông tin, tư vấn cho SV, quản lý các nguồn tài nguyên thông tin hiệu quả), kỹ năng tổ chức và quản lý thư viện, có kỹ năng giao tiếp với SV và khả năng xử lý tình huống trong quá trình phục vụ.

Người làm thư viện cần nắm được tầm quan trọng trong công tác phục vụ, đưa ra cho mình những nhiệm vụ cụ thể, tạo mọi điều kiện để SV có thể tiếp cận các nguồn tài liệu dễ dàng, thuận lợi; sử dụng các biện pháp nhằm thu hút SV đến thư viện; nghiên cứu và đáp ứng các nhu cầu, giúp hình thành thói quen đọc sách của họ.

Người làm thư viện đại học cần có thái độ niềm nở, thân thiện và nhiệt tình sẽ tạo cho SV cảm giác thoải mái và xem thư viện như ngôi nhà thứ hai của mình. Bên cạnh đó, người làm thư viện đại học cần trau dồi tốt khả năng tin học, ngoại ngữ để phục vụ trong quá trình xử lý tài liệu, giới thiệu những tài liệu ngoại văn đến những SV cần quan tâm. Bằng những kỹ năng và nghiệp vụ của mình, người làm thư viện đại học là cầu nối giữa thông tin và SV, hỗ trợ họ tiếp cận, khai thác các dịch vụ và sản phẩm tại thư viện một cách hiệu quả, giúp SV hình thành thói quen và kỹ năng đọc sách, góp phần nâng cao hiệu quả học tập của mình.

2.4.Phát triển, sử dụng phần mềm quản trị tích hợp

Hoạt động nghiệp vụ thư viện được tổ chức hệ thống, khoa học, phù hợp sự phát triển xã hội là điều kiện tất yếu để thư viện khẳng định được vị thế của mình. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, sử dụng phần mềm quản lý thư viện là giải pháp tối ưu để thực hiện các phân hệ biên mục, quản lý mượn trả. Việc sử dụng phần mềm tích hợp ở thư viện đại học còn hỗ trợ người làm thư viện trong việc quản lý người đọc, thống kê số lượt đọc, quản lý báo cáo, kiểm kê tài liệu cũng như biết được vòng quay của tài liệu.

Trong công tác biên mục tài liệu (mô tả, phân loại, định tiêu đề chủ đề, từ khoá…) với quy trình hợp lý là công cụ giúp SV tra cứu các cơ sở dữ liệu thư mục hiệu quả hơn. Trong phân hệ lưu thông tài liệu, thư viện đại học cần có chính sách hỗ trợ thời gian và số lượng khi mượn tài liệu (có thể mượn tài liệu ở nhiều kho, thêm thời gian mượn tài liệu, đăng ký mượn - trả sách qua thư điện tử, nhắc nhở SV qua thư điện tử, điện thoại khi sách gần quá hạn trả, hoặc sử dụng các loại máy trả sách tự động). Qua đó, SV sẽ không mất nhiều thời gian trong quá trình mượn - trả tài liệu.

2.5.Đẩy mạnh hoạt động marketing phát triển các sản phẩm, dịch vụ thư viện đại học

Trong hoạt động thư viện, marketing giúp cho người đọc hiểu về vị trí, vai trò của thư viện cũng như người làm thư viện trong xã hội; nhận biết về các dịch vụ, sản phẩm thông tin mà thư viện có và chất lượng của chúng nhằm thu hút ngày càng đông SV tới sử dụng thư viện. Marketing giúp thư viện xây dựng các mối quan hệ với các cơ quan tổ chức, nhà tài trợ và với người đọc; giúp thư viện hiểu được nhu cầu, mong muốn và yêu cầu tin của mỗi đối tượng đọc, từ đó xây dựng các dịch vụ và tạo ra các sản phẩm thông tin phù hợp nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu tin của họ [3].

Vì vậy, muốn đẩy mạnh hoạt động marketing, người làm thư viện đại học cần có khả năng đánh giá nhu cầu tin của người đọc nhằm đưa ra các chính sách, hình thức phổ biến các sản phẩm, dịch vụ thông tin đa dạng.

Về các chính sách thu hút người đọc, thư viện đại học có thể đưa ra nhiều hình thức hỗ trợ như: tìm tin theo yêu cầu miễn phí, sử dụng máy tính phục vụ việc học tập, nghiên cứu miễn phí, tạo lập các chế độ thành viên, thành viên thân thiết, thành viên Vip với nhiều chế độ ưu đãi hơn khi sử dụng các dịch vụ của thư viện.

Về hình thức phổ biến các sản phẩm, dịch vụ thông tin, thư viện đại học cần biên soạn sản phẩm thông tin thư mục, tương tác trực tiếp với người đọc qua trang web thư viện, Zalo, Facebook, xây dựng đội ngũ cộng tác viên tuyên truyền, tổ chức các câu lạc bộ kết nối bạn đọc, tuyên truyền triển lãm sách theo sự kiện đến từng khoa, từng lớp, giới thiệu những tài liệu mới thư viện đang có và sắp có thông qua thư điện tử, tổ chức buổi sinh hoạt ngoại khoá định kỳ, phát hành tờ rơi giới thiệu về thư viện đến SV, đặc biệt là SV khoá mới vào đầu năm học, tổ chức lớp kỹ năng thông tin miễn phí... Việc quảng bá hình ảnh thư viện cần làm thường xuyên định kỳ, luôn sẵn sàng hỗ trợ SV với nhiều hình thức khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu tin tốt nhất cho họ.

2.6.Thường xuyên tìm hiểu, thống kê, nghiên cứu nhu cầu, hứng thú đọc sách của người đọc

Hứng thú và nhu cầu đọc có mối quan hệ mật thiết với nhau. Hứng thú đọc ảnh hưởng tới việc lựa chọn, cảm thụ và đánh giá tài liệu, gắn liền với nhu cầu đọc và là động cơ thúc đẩy việc đọc. Hứng thú đọc ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố (lứa tuổi, trình độ, giới tính, chuyên ngành…) [9]. Do đó, muốn phục vụ tốt nhu cầu của người đọc, người làm thư viện đại học cần tìm hiểu họ cần và thích đọc những loại tài liệu nào, thể loại nào nhằm đưa kế hoạch cụ thể, đồng thời phải tiến hành thường xuyên và hệ thống thông qua một số hình thức, phương pháp khác nhau như:

- Phương pháp quan sát (trực tiếp hoặc gián tiếp): Là phương pháp nhận thức thực tế dựa trên kinh nghiệm chung cho mọi khoa học. Người làm thư viện đại học cần có tư duy quan sát sư phạm, phải biết xác định nội dung quan sát (quan sát từng người đọc, từng nhóm người đọc chuyên biệt và những đặc điểm đọc sách của họ). Nhờ đó có thể nắm được một số mặt hành vi bên ngoài của người đọc, yêu cầu đối với sách và việc đọc sách, nên kết quả quan sát cần có sự suy xét chu đáo, cần được phân tích và tổng hợp kỹ lưỡng [8].

- Phương pháp phỏng vấn (trực tiếp hoặc thông qua thư điện tử, điện thoại): Là phương pháp thu thập lời nhận xét từ người đọc nhằm phát hiện những hứng thú đọc sách và sự đánh giá của người đọc với những tài liệu, đồng thời thu thập những ý kiến của họ đối với công tác tổ chức phục vụ của thư viện.

- Phương pháp điều tra (khảo sát từng đối tượng SV riêng biệt theo từng học kỳ, theo khoa, ngành đào tạo, môn học).

- Phương pháp thống kê (thông qua phần mềm quản lý tài liệu lưu thông, thống kê số lượt người đọc...): Là phương pháp nhận thức thực tế tổng hợp về mặt số lượng được ứng dụng trong công tác nghiên cứu người đọc. Tính quy luật về thống kê được quan sát trong sự biến đổi của số lượng và thành phần người đọc, nội dung và tính chất yêu cầu, khối lượng và nội dung sách người đọc mượn.

Việc quan tâm từng đối tượng người đọc bằng những phương pháp trên giúp thư viện đưa ra những phương pháp phục vụ phù hợp. Tuy nhiên, dù sử dụng phương pháp nào để điều tra khảo sát nhu cầu, hứng thú đọc của người đọc, thư viện cần phải đảm bảo các tiêu chí (tính phổ cập, tính xác định, tính có mục đích, kết quả, tiết kiệm, bền vững và hiệu quả cao) cũng như tạo sự gần gũi và thân thiện với người đọc.

2.7.Hợp tác, phối hợp tốt với các đơn vị nhà trường, cơ quan thư viện - thông tin trong và ngoài nước

Sự liên kết trong hoạt động thư viện góp phần thúc đẩy các mối quan hệ vừa phù hợp xu thế phát triển, vừa thoả mãn nhu cầu của người đọc. Đối với thư viện đại học cần có sự phối hợp với các khoa, bộ môn, giảng viên, phòng ban chức năng (phòng công tác sinh viên, phòng đào tạo, phòng quản lý khoa học...) để liên kết hoạt động nghiên cứu học tập cũng như quảng bá hình ảnh thư viện và truyền nguồn cảm hứng đam mê việc đọc sách đến người đọc. Việc liên kết với giảng viên tham gia trực tiếp giảng dạy giúp thư viện cập nhật những tài liệu cần thiết và có phương pháp giới thiệu đến SV những tài liệu phù hợp với từng ngành học, môn học, nhằm bổ sung hoàn chỉnh các tài liệu có trong chương trình đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.

Bên cạnh đó, người làm thư viện thường xuyên tham mưu đề xuất các kế hoạch chiến lược định hướng phát triển: liên kết các thư viện trong và ngoài nước chia sẻ những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ bằng nhiều hình thức như thực hiện chính sách mượn liên thư viện, chia sẻ các nguồn lực thông tin (bao gồm tài liệu in và tài liệu điện tử). Đặc biệt, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, thư viện đại học cần mạnh dạn hoà nhập để đưa ra các phương thức hoạt động nhằm xây dựng phát triển thói quen, sở thích và kỹ năng đọc trong SV ngày càng mạnh mẽ và lan toả hơn.

Kết luận

Kỹ năng, phương pháp đọc là yếu tố quan trọng cấu thành văn hoá đọc, là một loại kỹ năng mềm giúp bạn đọc có thể tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, vận dụng tri thức đã đọc một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo vào thực tiễn cuộc sống [6].

Phát triển kỹ năng và các phương pháp tiếp cận việc đọc sách cho người đọc là việc các thư viện đại học không ngừng hướng tới. Với quan niệm tất cả lấy người đọc làm trung tâm, thư viện đại học cần nâng cao hơn nữa trong việc xây dựng hình ảnh thư viện và người làm thư viện thân thiện, năng động, nhiệt huyết, chuyên nghiệp, để cùng chung tay xây dựng văn hoá đọc trong bối cảnh hội nhập và phát triển.

Hình thành và phát triển văn hoá đọc tại thư viện đại học là việc làm cần sự kết nối giữa thư viện và người đọc, tuy nhiên phần lớn là từ sự nhận thức của người đọc. Do đó, thư viện đại học sẽ là người bạn đồng hành, đồng thời đưa ra nhiều biện pháp và hình thức nhằm giúp người đọc nâng cao nhận thức và có cái nhìn đúng đắn hơn trong việc đọc sách để xây dựng cho mình văn hoá đọc phù hợp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Dự thảo Đề án phát triển Văn hoá đọc trong cộng đồng giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030https://thuvienphaplu- at.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Quyet-dinh-329-QD- TTg-De-an-phat-trien-van-hoa-doc-trong-cong- dong-den-2020-dinh-huong-2030-2017-342711. aspx. Truy cập ngày 20/9/2018.

2. Lê Quỳnh Chi. Thư viện đại học góp phần nâng cao chất lượng đào tạo // Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2008. - Số 2. - Tr. 18-22.

3. Trương Đại Lượng. Marketing là gì? // Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2010. - Số 1. - Tr. 20-26.

4. Trương Đại Lượng, Nguyễn Hữu Nghĩa. Nâng cao chất lượng công tác phục vụ người đọc // Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2008. - Số 1. - Tr. 32- 36.

5. Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 10/3/ 2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về việc ban hành Quy chế mẫu tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học // Về công tác thư viện: Các văn bản pháp quy hiện hành về thư viện. - H., 2008. - Tr. 202-213.

6. Nguyễn Hải Sinh. Phát triển văn hoá đọc cho sinh viên hiện nay // Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật. - 2018. - Số 405.

7. Thông tư số 56/2003/TT-BVHTT ngày 16/9/2003 của Bộ Văn hoá - Thông tin hướng dẫn chi tiết về điều kiện thành lập thư viện và thủ tục đăng ký hoạt động thư viện // Về công tác thư viện: Các văn bản pháp quy hiện hành về thư viện. - H., 2008. - Tr. 247-55.

8. Phan Văn. Công tác độc giả. - Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Tổng hợp, 1978.

9. Lê Văn Viết. Cẩm nang nghề Thư viện. - H: Văn hoá - thông tin, 2000.

10. Mortimer J. Adler, Charles van Doren. Phương pháp đọc sách / Nguyễn Thành Thống dịch. - H.: Văn hoá - Thông tin, 2010. - 531tr.

_____________

Đinh Thị Bích Ngọc

Thư viện trường Đại học An Giang

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2019. - Số 2. - Tr. 25-31.

Các tin khác

Tài liệu điện tử mới

Nghiên cứu khả năng hấp phụ Fe(III), Ni(II) của than chế tạo từ bẹ chuối

Nghiên cứu khả năng hấp phụ Fe(III), Ni(II) của than chế tạo từ bẹ chuối

Tác giả: Thiềng,Lê Hữu; Huế,Trần Thị; Nhạn,Hoàng Thị

NXB:

A Quasi-Residual Principle in Regularization for a Common Solution  of a System of Nonlinear Monotone Ill-Posed Equations

A Quasi-Residual Principle in Regularization for a Common Solution of a System of Nonlinear Monotone Ill-Posed Equations

Tác giả: Bường,Nguyễn; Hương,Trần Thị; Thủy,Nguyễn Thị Thu

NXB:

Kết quả nuôi cấy đơn bào Histomonas meleagridis trong môi trường Dwyers và gây nhiễm cho gà ở Thái Nguyên

Kết quả nuôi cấy đơn bào Histomonas meleagridis trong môi trường Dwyers và gây nhiễm cho gà ở Thái Nguyên

Tác giả: Lan,Nguyễn Thị Kim; Tính,Trương Thị; Giang,Đỗ Thị Vân; Ngà,Nguyễn Thị Bích

NXB:

Steroidal glycosides from  M arsdenia tenacissima

Steroidal glycosides from M arsdenia tenacissima

Tác giả: Khang,Phạm Văn

NXB: